Từ bỏ ngai vàng, vua Trần Nhân Tông làm nên huyền thoại Trúc Lâm Yên Tử

    “Từ bỏ ngôi vua để tu hành
    Từ cái nhất thời, cái hữu danh
    Vĩnh hằng vô hạn, vua tìm đến
    Yên Tử trường xuân hóa đất lành”

     

     

    Vua Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, sau khi nhường ngôi cho con, đã quyết định rời bỏ cung vàng điện ngọc, xuất gia tu hành trên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sau là Trúc Lâm Đại sĩ. Cuối đời Ngài tu và tọa hóa tại am Ngọa Vân, Yên Tử, được xưng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật. Sau khi ngài viên tịch, vâng theo di chúc, thân thể ngài sau 100 ngày được hóa tại Am Ngọa Vân. Pháp Loa, tổ thứ hai của Thiền Phái Trúc Lâm đến tưới nước thơm lên giàn hỏa, thu được ngọc cốt và hơn 3000 viên ngọc xá lợi lấp lánh ánh kim cương…

    Chúng ta cùng khám phá những câu chuyện đẹp đẽ thấm đẫm từ bi trên con đường tu luyện và giác ngộ của Ngài và cùng ngẫm về thiên mệnh khi tới thế gian của Ngài.

     

     

    Tâm hướng Phật thời niên thiếu và giấc mộng báo trước cuộc đời  tu hành.

    Vua Trần Nhân Tông tên huý là Trần Khâm, lúc nhỏ còn có tên là Nhật Tôn hay Kim Phật. Ông là vị vua thứ 3 của triều Trần, con trai trưởng vua Trần Thánh Tông và hoàng hậu Thiên Cảm. Hoàng hậu Thiên Cảm là con gái Trần Liễu, chị em gái của Trần Hưng Đạo.

    Ông sinh năm 1258. Lúc mới sinh, Đại Việt sử ký toàn thư đã miêu tả ông là “được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn”, vua Thánh Tông đặt tên cho ông là Kim Phật. Trong phần đề từ của bức tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” đương thời, hoạ sĩ Trần Quang Chỉ thời Nguyên đã ghi lại “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”.

     

    Ông được miêu tả là: “Được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử, vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn.” (Ảnh minh họa)

     

    Tháng 12 năm 1274, ông 16 tuổi, được sắc phong thái tử, kết hôn với con gái của Trần Hưng Đạo là Quyên Thanh công chúa.

    Theo “Thánh đăng ngữ lục” thì ông từ nhỏ đã có lòng hướng Phật, không có ý làm vua nên nhiều lần xin nhường ngôi thái tử lại cho em trai mình là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không chấp nhận. Sau khi kết hôn vài tháng, ông trốn khỏi hoàng cung vào giữa đêm khuya, tá túc ở một ngôi chùa trên Yên Tử. Vua Thánh Tông và hoàng hậu sau khi phát hiện ông biến mất thì vội vàng cho người tìm kiếm, khuyên giải ông về, cuối cùng ông đồng ý trở về.

    Sau khi về cung, ông lui tới chùa Tư Phúc, ngôi chùa rất nổi tiếng trong Cấm thành Thăng Long thời Trần.

    Hôm ấy tại đó ông nằm mộng thấy từ rốn của mình trổ ra một đoá sen vàng lớn như một bánh xe, trên đó có một đức Phật vàng. Bên cạnh, có người chỉ vào vua mà hỏi: Biết đức Phật này không? Đó là đức Biến Chiếu Tôn đấy!

     

     

    Sách Tam Tổ Thực Lục chép lại tỉ mỉ câu chuyện trên như sau:

    “Một đêm giờ Tý, vua vượt thành mà đi, muốn vào núi Yên Tử. Đến chùa ở núi Đông Cứu thì trời sáng, liền vào ẩn trong tháp. Vị tăng trụ trì thấy tướng mạo dị thường liền đem thức ăn khoản đãi. Hôm ấy thái hậu và vua Thánh Tông sai quần thần đi tìm tứ tán, bất đắc dĩ vua phải về. Khi lên ngôi, tuy ngồi lên chín bệ vinh quang nhưng sinh hoạt rất thanh tịnh.

    Một hôm nghỉ trưa tại chùa Tư Phúc trong đại nội, vua mộng thấy trên rốn mình nở ra một hoa sen lớn như bánh xe, trên đó có một đức Phật vàng. Bên cạnh, có người chỉ vào vua mà hỏi:

    Biết đức Phật này không? Đó là đức Biến Chiếu Tôn đấy!

    Vua tỉnh thức, đem giấc mộng nói lại cho Thánh Tông nghe, ai cũng lấy làm lạ. Từ đó thường ăn chay, tránh thịt cá, long nhan gầy mòn. Thánh Tông lấy làm lạ, hỏi, Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông), cứ thực trình bày. Thánh Tông khóc nói: “Ta đã già, cậy vào mỗi mình ngươi, nếu ngươi như thế làm sao nối được thịnh nghiệp của tổ tông” Điều Ngự cũng khóc. Điều Ngự thánh tính thông minh, hiếu học, nhiều tài, đọc khắp các loại sách thông suốt cả đến nội điển, thường mời các vị thiền khách tới cùng giảng cứu thiền học.”

    Năm 1276, con trai trưởng Trần Thuyên của ông ra đời, người sau này trở thành vua Trần Anh Tông.

    Năm 1278, Trần Nhân Tông lên ngôi vua lúc 20 tuổi. Tới tháng 3 năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử, lên làm thái thượng hoàng. Từ thời điểm này ông thường lấy hiệu là Đầu đà Giác Hoàng Điều ngự, chuyên tâm vào kinh sách nhà Phật.

    Sau ba trận chiến oanh liệt thắng quân Nguyên Mông, Trần Nhân Tông dường như đã hoàn thành trách nhiệm với đất nước ông trị vì, vào tháng 8 năm 1299, nhà vua quyết định lên núi Yên Tử tu hành.

     

     



    Các tin tức khác

                    Tin tức

                    Sản phẩm

                    Facebook Fanpage